Chính phủ mới và giấc mơ Việt Nam siêu cường

Những ngày qua, người dân cả nước hân hoan khi nhiều cán bộ có đức, có tài được Quốc hội nhất trí bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng với mức tín nhiệm rất cao. Chỉ vài ngày nữa, Chính phủ mới sẽ ra mắt, tiếp nối thành quả của một nhiệm kỳ Chính phủ đã qua rất thành công, đã đưa Việt nam trở thành nền kinh tế có quy mô vượt qua cả Singapore và trở thành nền kinh tế đứng thứ tư trong khối ASEAN. Chưa bao giờ Việt Nam đứng trước một vị thế quốc tế và cơ hội lớn lao như vậy. Trong sự tin tưởng của nhân dân là cả kỳ vọng Chính phủ mới sẽ tạo nên những bước đột phá, thực hiện mong muốn của cả dân tộc “bước lên đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”.

I. Bao giờ Việt Nam hoá rồng ?

Là người Việt Nam, chúng ta đã quá quen thuộc với những câu chuyện “hoá rồng”, “hoá hổ” thần kì của các dân tộc trong nhóm “dùng đũa” khác: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore.

Thế nhưng, chính lãnh đạo của một trong những quốc gia hoá rồng thành công nhất là Thủ tưởng Lý Quang Diệu của Singapore lại từng khẳng định rằng: “Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”. 

Vậy khi nào thì Việt Nam mới hoá rồng? Khi nào chúng ta mới có thể “bước lên đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” ?

Câu hỏi này không phải là không có câu trả lời, nhưng điều ngạc nhiên là câu trả lời lại đến từ chính những người nước ngoài. Trong cuốn “Cường quốc trong tương lai – vẽ lại bản đồ thế giới năm 2030”, nhà nghiên cứu Hamada Kazuyuki (Nhật Bản) đã phân tích  tác giả đánh giá Việt Nam có nền kinh tế phát triển nổi bật nhất Châu Á; có đủ tham vọng, tầm nhìn và năng lực chuyển mình thành cường quốc trong tương lai, thách thức các cường quốc hiện tại. Đến 2048, Việt Nam sẽ nằm trong top 20 của thế giới về quy mô kinh tế.

“Nếu có vị trí số một ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người, Việt Nam không thể xếp sau nước nào trong khu vực”

Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu

Đánh giá này lại được khẳng định một lần nữa trong nghiên cứu “Trật tự thế giới toàn cầu sẽ thay đổi ra sao đến năm 2050?” do công ty kiểm toán hàng đầu thế giới PwC (Anh) công bố. Theo đó,  tới 2050, Việt Nam sẽ là một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Nhưng trong khi thế giới đưa ra những dự báo rất lạc quan về triển vọng kinh tế của Việt Nam, thì trong chính người Việt, cụm từ “Việt Nam siêu cường” dường như vẫn là một khái niệm quá mới mẻ, và dễ khiến người ta liên tưởng tới một bản tin hài hước do giới trẻ tạo ra thay vì một tầm nhìn, một mục tiêu mà cả dân tộc đang đặt ra và hướng tới.

Phải chăng là do đã có quá nhiều mục tiêu được đặt ra nhưng không hoàn thành? Phải chăng là đã có rất nhiều kì hạn bị lùi lại đến vô định? Phải chăng có rất nhiều rào cản ngầm khiến người dân Việt vô hình luôn mang một tâm thức “nghe vậy nhưng không phải vậy”, hay “chờ xem sao đã”.

Ngay cả đến Thánh Gióng, biểu tượng cho sức vóc của tuổi trẻ, cho sự trang bị bài bản “ngựa sắt”, “roi sắt”, cho tinh thần dám nghĩ, dám làm:“Mẹ gọi sứ giả vào đây…việc đánh giặc thì mẹ đừng lo”, cho sự tin cậy và trao quyền xử lý vấn đề an nguy quốc gia vào tay người trẻ của Hùng Vương – cũng chỉ là một truyền thuyết.

Và Thánh Gióng sau khi đánh tan giặc, vì lẽ gì mà không ở lại giúp nhân gian, mà phi ngựa thẳng về trời vẫn là một ẩn ý mà dân gian để lại cho hậu thế.

Phải chăng vì những rào cản khó nói đó, lại thêm hoạ ngoại xâm thường xuyên, mà trong suốt lịch sử dân tộc, người Việt có ít niềm tin vào những giấc mơ lớn, ít có những kế hoạch dài hạn thành công, ít có những công trình vĩ đại được xây đắp bởi nhiều thế hệ ?

Bình luận vậy để thấy rằng, ngay cả khi cơ hội “hoá rồng” của Việt Nam đã rõ ràng, thì thách thức đối với Chính phủ mới vẫn là rất lớn. Chúng ta có thể tạo niềm tin với bạn bè năm châu bằng những báo cáo phát triển kinh tế, nhưng để tạo niềm tin cho 90 triệu người dân Việt Nam vào giấc mơ Việt Nam siêu cường, thì người dân đòi hỏi Chính phủ thể hiện một tư duy đột phá, một tầm nhìn dài hạn, và những đổi mới căn bản tạo ra hiệu quả thiết thực. Đó sẽ là thách thức không hề nhỏ, nhưng cũng là niềm tin lớn lao mà toàn dân tộc gửi gắm vào những người lãnh đạo Chính phủ mới.

II. Để Thánh Gióng không còn bay về trời

Cung triển lãm quy hoạch Quảng Ninh gây ấn tượng với du khách bởi hình chú cá heo khổng lồ. Bên trong tổ hợp rộng 21.000 m2 là các bản quy hoạch được đặt vị trí trang trọng, công khai để người dân dễ hình dung về tương lai mảnh đất quê hương mình.

Năm 2014, Quảng Ninh công bố 7 quy hoạch chiến lược phát triển giai đoạn 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và công bố danh mục 48 dự án động lực mới. Lãnh đạo tỉnh thời kỳ đó thể hiện sự táo bạo một cách khoa học khi mời những đơn vị tư vấn hàng đầu thế giới đến Quảng Ninh nghiên cứu và lập quy hoạch. Đó là các hãng tư vấn tên tuổi như McKinsey, BCG (Mỹ), Nikken Sekkei, Nippon Koie (Nhật Bản)…

Khi ấy, Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trên cả nước làm được việc này. Nhưng cũng giống chàng Thánh Gióng 3 tuổi mà chẳng biết nói cười, 10 năm trước, Quảng Ninh ngoài một tầm nhìn lớn thì vẫn còn “3 không”: không đường cao tốc, không cảng hàng không, không cảng tàu biển quốc tế. Từ một vùng bị cô lập bởi sông ngòi, cửa vịnh, xa xôi tận cuối trời Đông Bắc, Quảng Ninh đặt mục tiêu trở thành vùng kinh tế trọng điểm, tựa chàng Thánh Gióng 3 tuổi cất tiếng đòi đi đánh giặc.

Nhưng trong khi Thánh Gióng được bà con góp gạo, góp cơm, góp của để lớn nhanh như thổi, thì Quảng Ninh chỉ có thể dựa vào nguồn lực của mình.

Năm 2010, khi cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đang triển khai, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh thời kỳ đó đã nhìn thấy con đường xuyên các đầm lầy của Quảng Yên, từ Đình Vũ (Hải Phòng) về Đại Yên (Quảng Ninh) chỉ 26 km. Nhưng thách thức là phải làm cây cầu với tĩnh không hơn 50 m qua sông Bạch Đằng, chi phí hơn 7.000 tỷ. Đường nối từ Đại Yên tới đầu cầu Bạch Đằng dù chỉ hơn 19 km nhưng đầy đầm lầy, sông lạch, nên chi phí cũng cần tới hơn 6.400 tỷ đồng.

Không bó tay chờ vốn, Quảng Ninh đề xuất Trung ương cho làm 2 dự án, dự án cầu làm bằng vốn BOT và dự án đường làm bằng vốn ngân sách. 26 km cao tốc đã giúp Quảng Ninh rút ngắn thời gian tới Hà Nội chỉ còn 2 tiếng thay vì 4 tiếng như khi đi theo quốc lộ 18 trước đây.

Với cách làm lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, trong gần 10 năm qua, một đồng vốn từ ngân sách đã hút 8-9 đồng vốn từ xã hội để phục vụ mục tiêu phát triển. Chỉ trong giai đoạn 2016-2020, Quảng Ninh đã thu hút tổng số vốn đầu tư toàn xã hội đạt kỷ lục là 340.000 tỷ đồng. Riêng lĩnh vực giao thông, đến cuối năm 2020, Quảng Ninh sẽ có khoảng 200km đường cao tốc, trở thành địa phương có tốc độ phát triển giao thông nhanh nhất trong cả nước.

Sự phát triển thần kì của Quảng Ninh được toàn thể nhân dân và lãnh đạo TW, địa phương ghi nhận là do những vị lãnh đạo đầu tỉnh gần chục năm trước đã định hình và duy trì được tư duy dám nghĩ, dám làm, biết làm, dám chịu trách nhiệm; truyền được tinh thần phục vụ người dân, doanh nghiệp xuống đến từng cán bộ cơ quan hành chính. Ở Quảng Ninh có sự ổn định về chính sách, có sự nối tiếp tích cực, không bị đứt đoạn bởi tư duy nhiệm kỳ. Điều này khiến doanh nghiệp yên tâm bỏ tiền đầu tư và tiếp tục đồng hành cùng địa phương”.

Câu chuyện về sự phát triển thần kì của Quảng Ninh là một ví dụ cho thấy những giấc mơ “vươn mình thành Thánh Gióng” là hoàn toàn khả thi ở Việt Nam, nếu như có những người đứng đầu có tâm, có tầm, biết nhìn ra trông rộng, dám nghĩ dám làm, mạnh dạn đổi mới cách thức quản lý và đặc biệt là có chính sách đãi ngộ và tuyển chọn nhân tài dựa trên năng lực để phục vụ việc công.

Thế nhưng, những trường hợp như Quảng Ninh mới chỉ là cá biệt, cả nước chúng ta vẫn còn rất nhiều tỉnh thành trong tình trạng “không nói, không cười”, hay phát triển trong một vài nhiệm kì lãnh đạo rồi lại thụt lùi trong những nhiệm kì khác kiểu “Thánh Gióng bay về trời”.  Phải làm sao để không chỉ Quảng Ninh, mà 62 tỉnh thành còn lại của Việt nam đều có sự phát triển đột phá nhưng bền vững. Đó cũng sẽ là sự kì vọng của nhân dân gửi gắm vào những lãnh đạo của Chính phủ mới.

III. Người dân đặt niềm tin và kì vọng vào Chính phủ mới

Mười năm trước khi sang thăm Việt Nam, Thủ tướng Lý Quang Diệu, người đánh giá Việt Nam có tiềm năng hơn cả để trở thành số 1 Đông Nam Á, cũng thẳng thắn nhận xét rằng rào cản lớn nhất để Việt Nam hoá rồng là chất lượng thể chế và nguồn nhân lực.

Những dự báo của nhà lãnh đạo Singapore về vị trí số một của Việt Nam đang có khả năng trở thành hiện thực. Mặc dù vậy, những thách thức cũng do chính vị thủ tướng lừng danh nêu ra cách đây hơn mười năm gần như vẫn còn đó.

Dù xét về quy mô, nền kinh tế nước ta đã vượt qua Singapore, song xét về thu nhập bình quân đầu người, chúng ta vẫn tụt lại rất xa. Singapore đã là nước phát triển thuộc thế giới thứ nhất, Việt Nam vẫn chỉ là nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba.

Chính vì vậy, kỳ vọng lớn nhất được nhân dân và nhiều chuyên gia thể hiện qua báo chí và mạng xã hội đối với Chính phủ mới là sự đột phá trong lĩnh vực thể chế và nhân lực. Đây cũng là hai trong số ba đột phá chiến lược mà Đảng đã đề ra hàng chục năm nay.

Nhìn vào các vị trí lãnh đạo được Quốc hội tin tưởng phê chuẩn bổ nhiệm, nhân dân tin tưởng rằng thế hệ lãnh đạo của Chính phủ mới là những người có đức, có tài, có bề dày công tác và chuyên môn của các nhà khoa học – điều rất cần thiết cho việc hoạch định một tương lai phát triển dài hạn cho Việt Nam không chỉ trong nhiệm kì Chính phủ này, mà là cho tương lai của dân tộc. Vui mừng hơn, khi người lãnh đạo cao nhất của Chính phủ, cũng là người đã kiến tạo nên sự phát triển thần kì cho “Thánh Gióng” Quảng Ninh.

Tin tưởng rằng, trong 5 năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có một nhiệm kì rất rất thành công, và trong 5 năm tới, sẽ tiếp tục là một nhiệm kì thành công với nhiều đột phá hơn nữa./.

Có thể bạn quan tâm

Để lại bình luận của bạn

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *